Chương 6 — Nhà họ Đậu
Tử Mạch Trường An Trang 1 / 2
Tổ tiên của Đậu Tri Vi vốn là một gã bán hàng rong, nhà không có lấy một mảnh đất cắm dùi, nhờ một phen cơ duyên trùng hợp mới cưới được một nha hoàn của nhà buôn nọ trong trấn làm vợ. Y dùng mười lượng bạc sính lễ mà vợ mang theo mua được một mẫu hai phân đất ở thôn Bắc Lâu, huyện Chân Định, từ đó an cư lạc nghiệp, sinh con đẻ cái, dòng dõi ngày một đông.
Đó chính là khởi nguồn của dòng họ Đậu Bắc Lâu sau này nổi tiếng khắp chốn.
Ông cố của Đậu Tri Vi mười tuổi đã vào làm học việc trong hiệu tơ lụa của chủ cũ của mẹ mình. Mười bốn tuổi ra nghề, hai mươi tuổi đã lên làm nhị chưởng quầy của hiệu vải lụa. Ông chủ định gả nha hoàn thân tín của con gái mình cho y, nhưng y không muốn con cháu mình cả đời cứ xoay quanh ông chủ, bèn muốn cưới cô con gái của một gã tú tài nghèo ở đầu tây trấn, họ Hác, làm vợ.
Năm hai mươi mốt tuổi, y dùng tám lượng bạc dành dụm được từ chắt bóp ăn mặc của mình làm sính lễ, cưới nàng Hác về, rồi mất luôn chức nhị chưởng quầy.
Y dẫn nàng Hác về thôn Bắc Lâu, nhận lấy đôi quang gánh bán hàng rong của cha, cùng ba mươi mẫu ruộng tốt mà cha y cả một đời cặm cụi làm lụng mới dựng nên cơ nghiệp. Mùa màng bận rộn thì cày cấy, mùa nông nhàn thì đi khắp các thôn xóm bán buôn.
Mùa hè năm sau, nàng Hác sinh cho y một thằng cu mập mạp kháu khỉnh.
Y gặp một thương nhân thu mua bông ở đầu làng.
Phủ Chân Định vốn trồng bông.
Gã thương nhân thu mua bông muốn tìm người thông thạo các hộ nông dân bản địa để giúp mình thu mua bông.
Cha y tự tiến cử mình. Nhờ bản lĩnh khổ luyện được trong hiệu vải lụa, chỉ liếc mắt một cái là biết ngay bông có bị pha tạp hay không, tay nhấc lên một cái là biết bông nặng bao nhiêu cân, lại còn biết tính bàn tính, biết ghi chép sổ sách.
Qua mùa hè, ngoài thù lao đã thỏa thuận trước, gã thương nhân thu mua bông còn thưởng thêm cho ông cố của Đậu Yến mười lượng bạc, và hẹn với y rằng đến tầm này năm sau sẽ lại tìm y đến giúp.
Đến mùa đông, ông cố của Đậu Tri Vi đã đi khắp mười dặm tám thôn của huyện Chân Định. Đợi đến mùa hè năm sau, nhà nào trồng bao nhiêu bông, bông tốt hay xấu, hộ trồng bông ăn ở có dễ chịu hay không, y nắm rõ ràng từng ly từng tí; thu bông, cân bông, tính sổ, nhập kho, ghi sổ, không một chút sai sót. Gã thương nhân kia chỉ việc phe phẩy quạt ngồi dưới bóng cây uống trà là xong.
»Xem ra, có ta hay không có ta cũng như nhau, ta ở đây còn phải tốn tiền trọ và tiền ăn.« Gã thương nhân cười nói với ông cố của Đậu Tri Vi, »Ta có một ý này. Ta ứng trước cho ngươi một phần tiền, ngươi tự đi thu mua bông, rồi đem số bông thu được tới chỗ ta, dựa vào bông tốt hay xấu mà ta thanh toán với ngươi. Ngươi thấy thế nào?«
Nhà họ Đậu chính là khởi nghiệp từ việc thu mua bông như vậy.
Đến đời ông nội của Đậu Tri Vi, người nhà họ Đậu đem bông thu mua được từ các huyện Chân Định, Hoạch Lộc, Nguyên Cực, Bình Sơn, Hành Đường... buôn bán xuống Giang Nam, đổi lấy tơ lụa Giang Nam đem bán sang Tứ Xuyên, rồi lại vận chuyển dược liệu Tứ Xuyên lên Kinh sư đổi thành bạc, chế tác thành những món trang sức kiểu mới bán cho quan lại giàu sang của phủ Chân Định.
Ông nội của Đậu Tri Vi chỉ cần yên tâm đọc sách, thi lấy công danh là được.
Chỉ có điều, ông có treo mình lên xà nhà, đâm đùi lấy máu mà khổ công đèn sách thì cũng chỉ đỗ được đến tú tài.
Nhưng điều đó không ngăn cản ông cưới được cô con gái của cử nhân họ Triệu ở thôn An Hương, huyện Hành Đường bên cạnh làm vợ.
Nhà họ Triệu với nhà họ Đậu thì khác hẳn nhau!
Người ta có gia phả hẳn hoi.
Trong nhà tuy chỉ có một trăm hai mươi mẫu đất, nhưng tổ tiên người ta có thể truy ngược tới thời Chu Mục Vương. Hơn nữa, »Triệu« còn là quốc tính của triều trước, tổ tiên nhà họ Triệu là vào lúc đổi triều thay đại mới từ cố đô Biện Kinh dọn đến đây ở.
Họ Triệu ở An Hương cũng là bên ngoại của Đậu Tri Vi.
Sau khi ông nội của Đậu Tri Vi thành thân với nàng Triệu, sinh được hai người con trai. Con trưởng là Đậu Hoán Thành, con thứ là Đậu Diệu Thành.
Hai anh em từ nhỏ đã thông minh hơn người, theo ông ngoại Triệu cử nhân đọc sách, khi lớn lên, được đưa đến Quốc Tử Giám ở Kinh đô theo học.
Năm Chí Đức thứ mười ba, hai anh em cùng một lúc được ghi tên trên bảng vàng.
Người anh đỗ nhị giáp hạng thứ ba, người em đỗ nhị giáp hạng thứ ba mươi bảy.
Nhà họ Đậu từ đây mới thực sự phú quý hẳn lên.
Về sau người anh đỗ được thứ cát sĩ, ở lại Hàn Lâm viện, quan sát chính sự ở Hành Nhân ty. Người em thì được bổ ra ngoài làm một chức huyện thừa ở huyện Tiến Hiền, phủ Nam Xương.
Ông nội của Đậu Tri Vi rốt cuộc phúc phận mỏng manh, vinh quang chưa được mấy năm đã cưỡi hạc về trời.
Lúc ông mất, hai anh em đều không có mặt bên cạnh.
Hai anh em về quê thủ tang, hết tang kỳ lại hồi Kinh chờ bổ khuyết.
Người anh là thứ cát sĩ, từng ở Hành Nhân ty, chẳng bao lâu đã mưu được chức ngự sử Đô Sát viện. Người em mất cả nửa năm trời lận đận, nhờ người anh chạy vạy mới mưu được chức kinh lịch ở Kinh Lịch ty của Án Sát ty Vân Nam.
Trong ấn tượng của người em, Vân Nam núi non hiểm trở, sông nước độc hại, mưa độc sương mù đầy trời, từng có quan viên trên đường đến nhậm chức đã đột nhiên mắc bệnh mà chết, căn bản không phải chỗ cho người ta sống.
Nếu tiếp tục ở lại Kinh đô chờ bổ khuyết, thứ nhất là hai anh em họ mới bước chân vào quan trường, chức tốt e rằng chẳng dễ gì mưu được; thứ hai là quan triều đình ba năm thăng một cấp, đợi đến khi y mưu được chức tốt, e rằng người anh đã sớm thăng lên tòng lục phẩm mất rồi.
Y càng nghĩ càng thấy vô vị, bèn từ quan trở về huyện Chân Định.
Ngày tháng của nàng Triệu vốn sống vừa thể diện vừa thư thái, nếu nói có gì chưa thỏa nguyện, thì đó là hai người con trai đều làm quan nơi xa, nàng sợ lúc mình chết cũng giống như ông nhà, chẳng có con trai nào ở bên đưa tiễn.
Đậu Diệu Thành về quê, nàng đương nhiên là mười phần mười bằng lòng.
Dù sao con trai lớn quan lộ hanh thông, con trai thứ hai trở về, vừa khéo có thể hầu hạ, tận hiếu trước mặt nàng, lại có thể giúp quán xuyến việc nhà.
Đậu Diệu Thành, với vầng hào quang tiến sĩ cập đệ trên đầu, so với các bậc tổ tiên như Đậu Quyến làm ăn buôn bán tự nhiên không thể nói cùng một lẽ.
Bạc đổi được ở Kinh đô không còn dùng để mua bán trang sức nữa, mà trở thành tiền cho vay nặng lãi, hoặc cho vay với những hàn lâm nghèo khó; hoặc cho vay với những vị quan cỡ bảy phẩm "hạt vừng" vừa mới mưu được chức ra ngoài làm quan, cần một khoản bạc lớn để giao tế và sắm sửa kiệu quan, áo mũ quan; hoặc cho vay với những phong cương đại lại từ nơi khác về Kinh báo cáo công việc, cần mời khách đưa quà. Sau đó, theo mức thăng giáng của các quan viên ấy, nhà họ Đậu bắt đầu nhúng tay vào đá xây dựng sông ngòi, lương thảo cho chín trấn biên cương, giấy phép bán muối ở Nam Giang...
Bạc tuôn về như nước chảy, khiến nàng Triệu và Đậu Hoán Thành hoa cả mắt, trong lòng kinh sợ không yên.
Đậu Hoán Thành, lúc này đã là Hữu thiêm sự của Đô Sát viện, không chỉ một lần cảnh cáo người em: »Trăng tròn thì khuyết, nước đầy thì tràn. Em vẫn nên giấu bớt tài năng đi một chút.«
Đậu Diệu Thành chẳng để bụng: »Kẻ liều to gan thì chết no, kẻ nhát gan thì chết đói. Ta đây cũng chỉ là mượn oai hùm mà thôi. Khi nào anh về hưu, món buôn bán này ta cũng sẽ không làm nữa.«
Đậu Hoán Thành lại cho rằng thứ tiền này kiếm chẳng được sạch sẽ: »Hàng Nam bán Bắc, dù sao cũng là kiếm được đồng tiền khó nhọc. Em làm như thế, là quan thương cấu kết! Là phát tài trên nỗi khổ của quốc gia!«
Đậu Diệu Thành cười lạnh: »Đại huynh lúc này mới chê tiền bẩn tay sao? Lúc huynh muốn mua bản khắc Tống quý hiếm, sao chẳng chê tiền bẩn? Lúc huynh muốn giúp đỡ cô nhi của đồng liêu, sao chẳng chê tiền bẩn...«
»Huynh đấy!« Đậu Hoán Thành tức đến run cả môi.
Hai anh em bất hoà mà chia tay.
Triệu thị nhìn mà đau lòng, khuyên Đậu Diệu Thành: »Con hãy nghe lời anh con đi! Nó làm việc ở Đô Sát Viện, chuyên đàn hặc trăm quan, trông thấy nhiều chuyện, nó sẽ không hại con đâu.«